Giải Thưởng Nobel Về Ong Mật

Mọi người nuôi ong đều phải vật lộn với loài bọ phá hoại Varroa. Mọi người nuôi ong cũng biết chúng ta sắp hết vũ khí. Với khả năng kháng thuốc diệt bọ ve thông thường rất cao, các nhà nghiên cứu tại Monsanto thay vào đó đang cố gắng sử dụng công nghệ sinh học để chống lại loài bọ ve – nó có thể hoạt động, nhưng liệu ngành công nghiệp này có thực sự cần một chất diệt bọ ve khác không?

Gần đây, tôi có cơ hội nghe bài nói chuyện của hai thành viên trong nhóm nghiên cứu về ong mật của Monsanto: Jerry Hayes (tác giả đáng kính của America Bee Journal về The Classroom) và Alex Inberg. Hayes là diễn giả chính tại cuộc họp thường niên của Hiệp hội các nhà sản xuất mật ong British Columbia ở Kelowna vào tháng 10 năm ngoái, và Inberg đã phát biểu tại hội nghị của Hiệp hội Côn trùng học Hoa Kỳ ở Denver vào tháng 11 năm ngoái. Cả hai đều nhấn mạnh cách Monsanto đang phát triển một phương pháp kiểm soát varroa mới bằng cách sử dụng kỹ thuật công nghệ sinh học có tên là “can thiệp RNA” (viết tắt là RNAi). Bằng cách cho các đàn ong mật ăn xi-rô có chứa các phân tử RNA cụ thể, chúng có thể ngăn chặn sự phát triển của quần thể ve. Nó vẫn chưa sẵn sàng để đưa ra thị trường và không phải là viên đạn bạc, nhưng đó là một nỗ lực hấp dẫn vì nhiều lý do (về mặt khoa học và mặt khác).

RNAi đã gây bão sinh học phân tử trong vài thập kỷ qua, mang về cho những người phát hiện ra nó (Andrew Fire và Craig Mello) giải thưởng Nobel về ong mật năm 2006. Vào cuối những năm 1990, họ phát hiện ra rằng tiêm vào những con giun nhỏ (Caenorhabditis elegans) một loại phân tử RNA nhất định có thể thay đổi hành vi của giun và suy luận rằng điều này xảy ra là do chúng đang làm gián đoạn dòng thông tin di truyền đều đặn.1 Tế bào chứa DNA trong nhân, DNA này thường được phiên mã thành các phân tử nhỏ hơn gọi là RNA thông tin (mRNA) di chuyển ra ngoài nhân để đến được dịch mã thành protein (Hình 1A). DNA là chuỗi kép (hãy nghĩ đến cấu trúc xoắn kép nổi tiếng) trong khi mRNA là chuỗi đơn (chúng tôi gọi nó là chuỗi “giác quan”), nhưng nó cũng có khả năng tạo thành chuỗi kép nếu được cung cấp đối tác bổ sung phù hợp. (chuỗi “antisense”). Fire và Mello phát hiện ra rằng khi các chuỗi RNA cảm giác và antisense được kết hợp để tạo thành RNA chuỗi kép và được tiêm vào sâu, gen tương ứng với trình tự cảm giác (gen cần thiết để tạo ra protein chức năng) sẽ bị bất hoạt và giun bắt đầu hoạt động. để co giật. vậy chuyện gì đã diễn ra?

Gen mà Fire và Mello nhắm đến có tên là unc22, loại gen này thường được sản xuất trong các tế bào cơ và rất quan trọng đối với sự co và vận động của cơ. Trong điều kiện bình thường, trình tự DNA unc22 được phiên mã thành chất truyền tin mRNA và được dịch sang protein unc22 (việc thiếu chữ in nghiêng ở đây không phải là nhầm lẫn – đó là một quy ước kỳ lạ trong lĩnh vực này khi tên gen được in nghiêng và tên protein thì không’ t). Đây là luồng thông tin bình thường đối với bất kỳ gen nào.

Tiêm unc22 sợi đôi có khả năng ức chế sự biểu hiện của gen đó, khiến giun mất khả năng kiểm soát cơ (do đó gây co giật). Sau bài báo chuyên đề của Fire và Mello năm 1998, nhiều nhà nghiên cứu khác đã tham gia làm sáng tỏ các thành phần phân tử quan trọng (Hình 1B) – hóa ra, RNA sợi đôi được cắt thành các mảnh nhỏ hơn bởi một loại protein có tên thích hợp là “Dicer, ” và được kết hợp thành một phức hợp protein lớn hơn gọi là “RISC.” RISC sử dụng các bit RNA này giống như máy dò mảnh ghép để tìm kiếm và tiêu diệt các phân tử mRNA bình thường có mảnh phù hợp hoặc chuỗi RNA miễn phí. Khi phân tử mRNA bình thường bị phá hủy, nó không thể được chuyển đổi thành protein và chức năng mà nó thường phục vụ sẽ bị mất. Vì vậy, khi tiêm RNA chuỗi kép unc22 vào giun, kết quả cuối cùng là ức chế sản xuất protein unc22 và sau đó là mất chức năng cơ.

Công nghệ này không thoát khỏi sự chú ý của Monsanto đối với các ứng dụng trong kiểm soát sinh vật gây hại. Ngoại trừ sinh vật nhân sơ, gần như mọi sinh vật sống đều có bộ máy phân tử RNAi yêu cầu, bao gồm nhiều loài thực vật, côn trùng và động vật có vú. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là phương pháp xử lý RNA cũng độc hại trên toàn cầu – điều đó sẽ có hại cho hoạt động kinh doanh. Vì các nhà nghiên cứu kiểm soát trình tự RNA sợi đôi nên họ cũng kiểm soát các gen mà họ quyết định tắt. Để nhắm mục tiêu vào sinh vật này thay vì sinh vật khác (chẳng hạn như varroa, nhưng không phải ong mật), chúng ta chỉ cần tìm một chuỗi gen thiết yếu mà một loài có, còn loài kia thì không.

Trong trường hợp của varroa, có một gen được biểu hiện ở ve cái cần thiết cho quá trình sinh sản. Đôi khi có thể có những tác động ngoài mục tiêu đáng ngạc nhiên, vì vậy tất cả đều cần phải kiểm tra nghiêm ngặt, nhưng chúng tôi khá giỏi trong việc dự đoán gen nào sẽ và không bị ảnh hưởng.

Hayes nói với đám đông tại cuộc họp Kelowna: “RNA không độc hại đối với con người. “Bạn ăn nó đi – tất cả chúng ta đều ăn RNA trong thức ăn thông thường của mình. Và nếu bạn làm đổ nó xuống đất, nó sẽ nhanh chóng bị hỏng.” Phương pháp điều trị RNAi thường được tiếp thị là “không tổng hợp”, nhưng mô tả đó không chính xác; các phân tử RNA sợi đôi là phân tử tổng hợp – một lượng lớn enzyme tinh khiết được sử dụng để tổng hợp nó trong các phản ứng hóa học có kiểm soát. Sự khác biệt giữa RNAi và các phương pháp điều trị thông thường là ở đặc tính của phân tử và cơ chế hoạt động.

Công thức này không có tính ăn mòn, giống như các phương pháp điều trị bằng axit varroa thông thường, cũng như không tích tụ trong sáp của tổ ong. Nguy cơ….

======

Bài viết được biên soạn bởi Mật Ong Golden Bee https://goldenbee.com.vn/

Tất cả về Mật Ong https://goldenbee.com.vn/mat-ong

Thông tin về Ong Mật https://goldenbee.com.vn/ong-mat

Sản phẩm Mật Ong Nguyên Chất Golden Bee https://goldenbee.com.vn/san-pham/mat-ong-nguyen-chat-golden-bee

Mật Ong Nguyên Chất Golden Bee

Mật ong nguyên chất Golden Bee, khai thác tại Tây Nguyên, đóng chai theo quy trình khép kín, đã hạ thủy phần trong nước dưới 20%.

Đọc tiếp

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *