Một Số Giống Ong Mật Tại Việt Nam

Trên thế giới hiện nay có rất nhiều giống ong mật cao sản được lưu hành. Riêng ở nước ta, phát triển nuôi ong mật theo phương pháp khoa học mới chỉ cách đây khoảng 20 năm. Dưới đây Golden Bee xin giới thiệu một số giống ong mật tại Việt Nam hiện có ở nước ta.

I. Giống Ong Mật Apis Dorsata

Giống ong này theo tập quán ở miền Bắc thì có tên gọi là ong khoái. Ở miền Nam hay gọi là ong gác kèo hoặc ong mật.

Đây là một giống ong Đại Ấn Độ, sống đơn kèo, có sức sống dã sinh rất mạnh mẽ, có tính hợp đàn lớn. Mỗi khi tới mùa hoặc hết mùa hoa là chúng đi chuyển rất mạnh, rất xa. Một đàn ong phát triển tốt thì đường kính tổ ong có thể lên tới 0,8-1,2m, mỗi đàn ong trong một mùa khai thác có thể lên đến 10-30l mật ong.

Giống ong này thường gặp ở rừng có nguồn hoa sung túc, đặc biệt là rừng già ít bị khai phá thì số lượng còn nhiều hơn.

Ở Nam Bộ có vùng tràm của U Minh Thượng và U Minh Hạ, nguồn phấn hoa và mật kéo dài từ tháng 12 đến gần cuối tháng 8 năm sau. Trữ lượng mật lớn nhất so với cả nước. Đã từ lâu người dân ở đây có kinh nghiệm tổ chức thành đoàn để quản lý từng cánh rừng và có kế hoạch khai thác rất phong phú. Sản lượng hằng năm có thể thu từ 100-200 tấn mật ong và hàng chục tấn sáp ong với chi phí đầu tư rất ít.

Đặc điểm của giống ong này là sau mùa hoa hoặc đầu vụ thì chúng di chuyển đàn rất mạnh, có lúc di chuyển hàng loạt, cư li di chuyển có khi từ 10-100km. Vào vụ hoa chúng có thể chia đàn, từ một đàn gốc phân ra một nhóm tạo thành đàn con và đàn này cũng có chúa. Chúng có thể dẫn nhau đi thật xa hoặc đậu gần đâu đấy và có khi cùng một cây.

Trong vài ngày đầu nếu chúng ở gần nhau và còn có quan hệ với nhau trong việc đi lại nhưng sau đó cúng tách biệt hẳn thành một đàn mới lớn mạnh dần. Mỗi đàn gốc có thể tạo thành nhiều đàn con và mỗi cây cổ thụ lớn có thể có đến vài ba chục đàn cùng bám hoặc hơn nữa (cây ong).


Cây ong

Từ tháng 10 năm trước cho đến tháng 4 năm sau giống ong này có thể đi chuyển về Thành Phố Hồ Chí Minh (rừng Sác), có tổ có mật, có tổ lại không. Vì tổ không có mật là do những đàn ong di chuyển xa chúng tạm dừng lại nghỉ cánh và làm tổ. Trong quá trình nghỉ cánh nếu nguồn mật hoa nở rộ thì chúng có thể dừng lại và làm tổ luôn.

Ở rừng U Minh việc khai thác giống ong này đã trở thành tập quán. Trước đây khai thác có tính chất cá nhân, lẻ tẻ nhưng những năm trở lại đây người dân đã tự tổ chức thành đoàn phong ngạn ở từng khu vực theo phân bổ của rừng. Nhưng việc thu hoạch vẫn theo tập quán thủ công. Sản phẩm của những giống ong này ngoài mật còn có một lượng sáp khá lớn. Ngoài ra ấu trùng phấn ong và nọc ong cũng có thể cho một sản lượng cao nếu ta biết tổ chức khai thác chúng.

Việc thuần hóa giống ong này cho tới hiện nay có nghiên cứu nhưng chưa thành công. Trong điều kiện của đất nước ta, việc tổ chức lại và duy trì giống ong này hiện nay là việc hết sức cần thiết và cấp bách (tránh tình trang khai thác quá mức ảnh hưởng đến số lượng đàn ong ngoài tự nhiên.)

II. Giống ong Apis Cerana và Apis Indica

Hai giống ong này được phân bổ rộng ở nhiều nước trên thế giới. Ở Tây Phi còn có tên gọi là Apis Koschevnikovi, gần đây người ta phát hiện giống ong này còn tồn tại nhiều nhất là ở Trung Quốc và các nước châu Á.

Giống ong mật này (ong nội) sinh sống khá phổ biến ở nước ta, đặc biệt là ở các vùng miền núi có nhiều hốc đá và hốc cây (một số nơi còn gọi là ong lông ). Về tầm vóc và kích thước, màu sắc, tính hợp đàn thì ở giữa hai loại có một số điểm khác nhau.

Các nhà nuôi ong thường gọi cho dễ phân biệt hai loại ong này là ong vàng và ong đen. Xin giới thiệu một số đặc tính và hình thái để phân biệt mà bất cứ người nuôi ong nào cũng đều phải nắm:

Đặc điểm

Ong vàng Ong đen

 Hình thái

-Lớn con.
-Màu vàng nhạt.
-Nhỏ con.
-Màu đen sẫm.

 Tính hợp đàn tự nhiên

-Hợp đàn lớn, có số quân từ 1,5-2kg.
-Số tầng xây từ 5-8 và có khi còn hơn nữa.
-Ít khi chia đàn.
-Hợp đàn ít, có số quân khoảng 0,5-1kg.
-Số tầng xây từ 3-5 cái.
-Hay phân chia đàn.

 Tính hợp đàn khi được thuần hóa

Mức trung bình có từ 5-8 cầu. Mức trung bình từ 4-5 cầu.
 Năng suất sản lượng Mỗi năm thu mật khoảng từ 12-15kg.

Mỗi năm bình quân từ 8-12kg.

 Đặc điểm quản lý ở các mùa -Ít phân chia đàn.
-Ít hung hăng.

-Hay phân chia đàn.
-Hung hăng.

 Ảnh hưởng của ngoại cảnh Dễ bị tác động ngoại cảnh, hay biến động.

Dễ bị tác động ngoại cảnh, hay biến động.

 Mức độ phân bổ Nhiều nhất ở phía Bắc, ở Nam chưa thấy có.

Nhiều nhất ở phía Nam, phía Bắc ít thấy.

Bảng so sánh đặc điểm của hai loại ong mật

Tập quán khai thác giống ong này của nhân dân ở miền núi còn tốn nhiều thì giờ, mất công sức đi lại. Ông cha ta đã nghiên cứu nhiều phương pháp để đưa loài ong này về nuôi gần nhà. Việc nghiên cứu đó đã đạt nhiều kết quả nhất định.

Hơn 20 năm qua, do ảnh hưởng của ngành nuôi ong thế giới phát triển mạnh, được sự quan tâm của nhà nước, nuôi ong theo kiểu mới được áp dụng và giống ong này không chỉ có ở miền núi mà đồng bằng cũng phát triển mạnh, trở thành quy mô lớn. Miền Bắc có năm đã có hơn 100 ngàn đàn ong mật, năng suất khá tốt. Song, trong thời gian từ năm 1972-1975 do bị dịch thối ấu trùng nghiêm trọng đã gây thiệt hại đến 80-90%. Hiện nay giống ong mật đã bước đầu đi vào phục hồi, bệnh đã đi vào lịch sử nhưng chắc chắn là dịch vẫn còn để lại nhiều thiệt hại.

Nói tóm lại, hơn 20 năm nuôi ong mật theo phương pháp mới ở miền Bắc và hơn 10 năm xây dựng ở miền Nam thì năng suất sản lượng rất thấp, quản lý phức tạp, hay bệnh tật. Nếu nuôi theo gia đình hoặc sản xuất nhỏ thì giống ong này vẫn còn có giá trị. Nhưng nếu đi vào con đường làm ăn lớn, nuôi theo phương pháp công nghiệp thì phát triển giống ong này không có hiệu quả kinh tế mấy.

III. Giống Ong Mật Có Nguồn Gốc Từ Ý (Ong Ý)

Trước năm 1963 ở Sài Gòn có nuôi giống ong nội địa nhưng sau đó các nhà nuôi ong thay thế bằng giống ong mật Italia nhập từ Hongkong và các nước khác.

Công tác quản lý đàn ong và con ong chúa nhập không theo nguyên tắc quốc gia, vì thế giống ong có chiều hướng lai tạp nhiều giống, nhiều dòng máu nên có sự thoái hóa về hình thái cũng như huyết thống. Đàn ong hiện tại quan sát thấy có nhiều màu sắc (kể cả ong chúa), có nhiều con rất bé nhỏ. Sức đẻ của con ong chúa kém vì thuần hóa nên rất khó đưa đàn ong lên 12 cầu, mỗi con ong chúa tạo ra chỉ dùng từ 6-12 tháng là phải thay.


Giống ong mật Ý

Hiện nay giống ong mật này cần phải nghiên cứu để giám định lại toàn bộ đàn ong giống để có biện pháp cụ thể. Trong tình hình đàn ong giống của cả nước nói chung đang gặp rất nhiều khó khăn thì giống ong Ý đó, qua khảo nghiệm 9 năm (kể cả các tỉnh phía Nam cũng như các tỉnh phía Bắc) đều xác định là một giống ong cao sản có năng suất và sản lượng cao hơn giống ong nội địa từ trước đến nay.

Muốn tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa thì trước mắt chúng ta phải có biện pháp tổ chức lại sản xuất, giám định và chọn lọc dần tạo thành đàn ong tốt, đề xuất với nhà nước tìm cách nhập chúa tốt để lai tạo ra đàn ong giống để đất nước có đàn ong thuần chủng.

Dưới đây là tóm tắt các đặc điểm và hình thái của giống ong này:

1. Giống ong mật Apis Mellifica.

• Thuộc họ Apidco
• Bộ phụ Aculeata (có kim chích)
• Bộ cánh màng Hymenotera
• Có nguồn gốc nhập từ Ý
• Hiện nay còn có tên là “ong ngoại”

2. Đặc điểm về hình thái.

Loài ong ý này có tầm vóc lớn con hơn giống ong Apis Indica (ong nội địa ) và nhỏ con hơn ong mật Apis Dorsata. Loại thuần chủng thì có màu vàng tươi, còn giống ong Ý hiện nay thì do lai tạp nhiều giống nên đa dạng, có màu vàng sậm, màu xám hoặc là khoang vàng….v..v….

Nói chung giống ong Ý lớn con hơn, mập mạp, chậm chạp, sức hợp đàn lớn, ít chia đàn. Mỗi đàn nếu chăm sóc và quản lý tốt sẽ lên thùng kế (nhiều tầng) từ 24-36 cầu ong mật.

• Ong chúa

Hình dạng ong chúa lớn gấp rưỡi con ong thợ và dài hơn 1/2 bụng. Cánh ong chúa chỉ phủ được phân nữa bụng, 6 chân dài, cặp chân sau không có giỏ phấn, chân dài nhưng yếu hơn chân ong thợ. Mình ong chúa phủ đầy một lớp lông mịn mượt.
Ong chúa có ngòi chích nhưng được giữ kín trong khoang dưới lớp da bụng, chỉ khi nào cần đánh nhau với chúa khác mới đem ra dùng. Khi chúa già do sinh đẻ nhiều, phần sau của bụng lông tơ rụng gần hết, đít ong chúa teo lại và màu da sẫm đen. Nhìn chung, tầm vóc có thay đổi rõ rệt.

• Ong thợ

Hình dạng thon gọn, chỉ nhỏ bằng 1/2 con ong chúa, đít ngắn hơi nhọn, cánh dài chấm đuôi, mình phủ một lớp lông tơ thưa và ngắn, bộ chân ngắn và chắc chắn, bộ chân sau có hình lõm gọi là giỏ phấn, bộ lưỡi dài (vòi) nếu là ong thuần chủng dài tới 7mm. Trong bụng ong thợ có chứa một vòi chích, một túi mật, một túi nóc và hệ sinh thực khí quản (đã thoái hóa). Dưới bụng ong có 4 bộ hạch sáp (vảy sáp).

• Ong đực

Đầu thân to, đít to, thân lớp hơn ong thợ, ngắn hơn ong chúa, màu đen sẩm. Có bộ lông ở phía bụng rất dài, đôi mắt kép dính liền với nhau. Không có ngòi chích, hàm dưới bị thoái hóa, việc ăn uống đều nhờ ong thợ mớm. Bộ phận sinh dục phát triển mạnh, thân thể cường tráng. Loài ong đực thường xuất hiện nhiều theo mùa sinh sản.


(Từ trên xuống) Ong thợ, ong chúa và ong đực

3. Đặc điểm về khai thác sản phẩm

Là một giống ong có sản lượng cao và khai thác có tính chất tổng hợp. Nếu một đàn ong tiêu chuẩn 12 cầu ong mỗi năm khai thác được:

Sữa ong chúa

Từ 500 – 700 g

Phấn hoa

Từ 2 – 3,3 kg

Mật ong

Từ 20 – 25 kg
Nhộng ong

Từ 250 – 500 g

Sáp ong

Từ 150 – 200 g

Ong giống

Từ 1 – 2 đàn

Nếu có khung cầu trống thì nhân được hơn 5 đàn. Trong khi đó, ong nội địa chỉ có thể khai thác được mật là chủ yếu nhưng ít hơn ong Ý. Ong nội địa cũng có thể khai thác thêm sáp ong, nhộng…nhưng số lượng không nhiều, đặc biệt là phấn hoa thì ong nội địa chưa có phương pháp thu được.

4. Công tác quản lý và nuôi dưỡng

Do tính chất hợp đàn lớn, sản lượng cao, khả năng dự trữ thức ăn trong một đàn ong 12 cầu thường xuyên từ 7-10 kg cho nên khối lượng một đàn ong rất nặng (25-45kg). Đàn ong ít phân đàn tự nhiên hoặc bay đi. Nguồn mật và phấn nếu sung túc thì ong đi làm từ sáng sớm đến chiều tối nếu trời tốt. Nguồn mật và phấn ở rải rác thì rất khó nuôi, nguồn phấn kém thì đàn ong giảm sút rất nhanh.

Trong gần 10 năm khai thác ở mùa cao su Long Khánh, khi có mật và phấn đầy đủ đàn ong xây cầu mạnh, chúa đẻ tốt và đàn ong phát triển bình thường. Khi nguồn phấn chấm dứt, mặt dù nguồn mật vẫn còn thì đàn ong lập tức ngừng xây cầu, các giai đoạn bị mất, thế của đàn ong giảm sút rất nhanh, mỗi lần quay mật đều phải rút từ 1-2 cầu bỏ ra. Trong mùa khai thác mật, thường là bệnh chí phát sinh mạnh (từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau).

Gần cuối mùa mật hoặc mùa thiếu mật, nếu công tác quản lý kém, kỹ thuật bị sơ xuất thì đàn ong hoặc cả trại ong sinh ra cướp mật gây thiệt hại từ 10 – 30% (có trại phải giải thể.).

IV. Giống Ong Mật Cuba

Giống ong này mới được nhập vào nước ta bằng con ong chúa để lai tạo với giống ong Ý hiện có. Hiện nay, giống ong nàu đang được Công Ty Ong Trung Ương Vinapi quản lý tại Lâm Đồng. Về mặt kinh tế, giống ong này chưa được xác định nhưng có một số đặc điểm như sau:

Hình dạng cũng thuộc loài Apis Mellifera, nhỏ hơn con ong Ý, chân dài, màu đen sẫm, ít vằn, vòi hút dài, nhanh nhẹn, tính tình hung dữ. Cũng nhạy cảm với bệnh chí và lười đi làm khi nguồn mật, thức ăn kém.
Sau đây là một số tiêu chí có thể so sánh được qua 4 giống ong hiện nay đang nuôi ở miền Nam Việt Nam và đã khai thác hoặc đang thí nghiệm để bạn đọc hiểu rõ hơn:

Đặc điểm

Giống ong Dorsata Giống ong Mellifica Giống ong Cuba Giống ong Indica

Hình thái

-Lớn nhất.
-Đít nhọn.
-Màu đen.
-Số quân từ 3-7 kg.
-Lớn thứ 2.
-Hơi tù.
-Màu vàng.
-Số quân từ 2-5 kg.
-Lớn thứ 3.
-Hơi tù.
-Màu đen.
-Số quân từ 2-5 kg.
-Loại bé nhất.
-Hơi nhọn.
-Đen vàng.
-Số quân có từ 0,5-3 kg.

Tính hợp đàn tự nhiên

-Đơn kèo.
-Một kèo (khoảng 0,8-1,2m).
-Nhiều cầu, từ 12-48 cầu
(44x25cm).
-Số cầu có từ 12 – 48 cầu
(44x23cm).
-Số cầu có từ 3-8 (42x20cm).

Tính dã sinh

-Không thuần hóa được. -Thuần hóa tốt.
-Nuôi thùng nhiều tầng.
-Thuần hóa tốt.
-Nuôi thùng nhiêu tầng.

-Còn tính dã sinh.
-Nuôi thùng đơn.

Sản lượng bình quân -Mật từ 10-30kg.
-Sáp từ 2-4 kg.
-Sữa từ 0,3-0,7 kg.
-Phấn 2-3 kg.
-Mật từ 20-25 kg.
-Sáp 0,2-0,25 kg.
-Sữa 0,3-0,7 kg.
-Phấn 2-3 kg.
Chưa khai thác thử.

-Mật từ 7-12 kg.
-Sáp 0,15 – 0,25 kg.
-Sữa khó lấy.
-Phấn chưa lấy được.

Đặc điểm quản lý -Dã sinh theo mùa vụ,
khai thác tự nhiên.
-Có tác động kỹ thuật
theo tập quán.
-Nuôi chủ động, khai thác lớn.
-Kỹ thuật tác động hoàn toàn.
theo phương pháp mới.
Quản lý khó hơn ong Ý.

-Theo phương thức.
sản xuất nhỏ.
-Kỹ thuật theo.
phương pháp mới.

Sâu bệnh hay gặp -Sâu bánh tổ.
-Sâu sáp.
-Bệnh chí rận.
-Nhộng trần.
-Thối ấu trùng.
-Nhạy cảm với bệnh chí.
-Nhộng trần.

-Bệnh thối ấu trùng.
-Nhộng trần.
-Sâu sáp.

V. Kết bài

Qua bài viết này, Golden Bee hy vọng bạn đọc biết thêm về một số giống ong mật tại Việt Nam của nước ta cũng như đặc tính, cách chăm sóc và năng suất, sản lượng của từng giống ong đem lại. Qua đó có cái nhìn tổng quát cũng như có thể lựa chọn được giống ong mật phù hợp để canh tác cho công việc. Đem lại kinh tế và sản phẩm tốt cho trại ong. Kết bài, hẹn gặp lại quý vị và các bạn ở bài viết tiếp theo, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu các dụng cụ nuôi ong cần thiết để lập một trại ong gồm có những gì.

======

Bài viết được biên soạn bởi Mật Ong Golden Bee https://goldenbee.com.vn/

Tất cả về Mật Ong https://goldenbee.com.vn/mat-ong

Thông tin về Ong Mật https://goldenbee.com.vn/ong-mat

Sản phẩm Mật Ong Nguyên Chất Golden Bee https://goldenbee.com.vn/san-pham/mat-ong-nguyen-chat-golden-bee

Mật Ong Nguyên Chất Golden Bee

100,000500,000

Mật ong nguyên chất Golden Bee, khai thác tại Tây Nguyên.

Đóng chai theo quy trình khép kín, bảo đảm VSANTP.

Đã hạ thủy phần trong nước dưới 20%.

Đọc tiếp

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo